Sau nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng TPHCM tiếp tục chuyển trọng tâm từ kiểm soát bệnh sang chủ động nhận diện, giám sát và ứng phó với những nguy cơ dịch bệnh mới.
Ngày 16/9, tại Hội trường Thống Nhất (TPHCM), Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng TPHCM, Bộ Y tế, tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm xây dựng và phát triển. Từ một đơn vị hình thành trong những năm kháng chiến, Viện đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, trở thành cơ sở chuyên môn thực hiện nhiệm vụ phòng chống sốt rét, bệnh ký sinh trùng và các bệnh do côn trùng truyền tại khu vực phía Nam.
Nửa thế kỷ trước, khi điều kiện y tế còn nhiều khó khăn, những cán bộ làm công tác sốt rét đã có mặt tại các vùng rừng núi, chiến trường để theo dõi dịch bệnh, nghiên cứu muỗi truyền bệnh, lấy mẫu xét nghiệm và tìm giải pháp bảo vệ sức khỏe bộ đội, người dân.
Theo TS. Giang Hán Minh, Viện trưởng Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng TPHCM, tiền thân của Viện được hình thành từ những năm kháng chiến tại Trung ương Cục R, bắt đầu từ tổ sốt rét, sau đó phát triển thành Phòng Sốt rét miền Nam (C30 – trực thuộc Ban Y tế B2).
Trong điều kiện chiến trường, nhiệm vụ của cán bộ y tế không dừng ở điều trị người mắc bệnh. Họ phải tìm hiểu tác nhân gây bệnh, vật chủ trung gian, đường lây truyền và đặc điểm dịch tễ để đưa ra các biện pháp phòng chống phù hợp.
Sau ngày đất nước thống nhất, ngày 18/5/1977, Bộ Y tế quyết định thành lập Phân viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng TPHCM. Đến ngày 18/6/2003, đơn vị được nâng cấp thành Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng TPHCM.
Viện được giao nhiệm vụ phối hợp với ngành y tế 20 tỉnh, thành khu vực phía Nam và Lâm Đồng trong công tác phòng chống sốt rét, ký sinh trùng và các bệnh do côn trùng truyền.
Từ những cánh rừng kháng chiến đến các vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo, nhiều thế hệ cán bộ của Viện đã thực hiện những chuyến công tác kéo dài, thu thập mẫu vật và dữ liệu phục vụ công tác giám sát dịch tễ.
Một chiếc bẫy đèn bắt muỗi, một mẫu máu, mẫu phân hay một con ve được thu thập ngoài thực địa có thể trở thành nguồn dữ liệu quan trọng sau khi được xét nghiệm, phân tích. Những thông tin này giúp các nhà chuyên môn nhận diện nguy cơ bệnh tật, theo dõi sự thay đổi của tác nhân gây bệnh và đưa ra giải pháp phòng chống.
Đây cũng là đặc thù của công tác y tế dự phòng: không chờ dịch bệnh xuất hiện rồi mới xử lý mà phải phát hiện nguy cơ từ sớm.
Nhìn lại chặng đường 50 năm, một trong những dấu ấn nổi bật của Viện là quá trình góp phần kiểm soát sốt rét tại khu vực phía Nam.
Sau năm 1975, sốt rét từng là một trong những vấn đề y tế nghiêm trọng. Có thời điểm số người mắc bệnh trên cả nước lên tới hơn 1 triệu người. Tại Nam Bộ và Lâm Đồng, mỗi năm có hàng trăm người tử vong do căn bệnh này.
Nhờ sự phối hợp của hệ thống phòng chống sốt rét, tình hình bệnh từng bước được kiểm soát. Từ năm 2007 đến nay, sốt rét tại Nam Bộ và Lâm Đồng được duy trì ở mức thấp, căn bệnh từng gây nhiều lo ngại tại các địa phương đã cơ bản được đẩy lùi.
Tuy nhiên, việc số ca bệnh giảm không đồng nghĩa nguy cơ đã biến mất.
Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên nhấn mạnh, khi số bệnh giảm xuống thì nhiệm vụ không giảm, mà yêu cầu duy trì thành quả càng trở nên quan trọng.
Trong bối cảnh ngành y tế hướng tới mục tiêu loại trừ sốt rét vào năm 2030, công tác giám sát vẫn phải được duy trì thường xuyên. Chỉ cần hoạt động phát hiện, theo dõi và can thiệp bị gián đoạn, nguy cơ bệnh quay trở lại vẫn có thể xuất hiện.
Theo Thứ trưởng, y tế dự phòng hiện đại cần chuyển từ tư duy phản ứng sang chủ động, tăng khả năng giám sát, dự báo và hành động sớm trước khi nguy cơ phát triển thành dịch bệnh.
Yêu cầu này càng rõ nét khi bản đồ dịch tễ đang thay đổi. Biến đổi khí hậu có thể tác động đến sự phân bố của các loài côn trùng truyền bệnh. Trong khi đó, đô thị hóa, giao lưu quốc tế và biến động dân cư tạo điều kiện cho một số bệnh truyền nhiễm mới hoặc bệnh lây truyền từ động vật sang người xuất hiện và lan rộng.
Một tác nhân gây bệnh có thể không còn bị giới hạn trong phạm vi địa phương. Khi tốc độ di chuyển của con người ngày càng nhanh, nguy cơ lây lan dịch bệnh cũng có thể diễn ra nhanh hơn.
Vì vậy, nhiệm vụ của các đơn vị y tế dự phòng không chỉ là kiểm soát những căn bệnh đang tồn tại mà còn phải chuẩn bị cho những nguy cơ chưa xuất hiện.
Trước những thay đổi đó, Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng TPHCM xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những hướng phát triển quan trọng trong giai đoạn mới.
Thứ trưởng Đỗ Xuân Tuyên đề nghị Viện tiếp tục củng cố năng lực chuyên môn về dịch tễ học sốt rét, ký sinh trùng, côn trùng và vector; tăng cường giám sát kháng thuốc, xét nghiệm và nghiên cứu khoa học.
Viện cũng được kỳ vọng phát huy vai trò đầu ngành trong việc phát hiện những vấn đề mới, giải quyết các vấn đề chuyên môn khó, hỗ trợ kỹ thuật cho địa phương và cung cấp bằng chứng khoa học phục vụ xây dựng chính sách y tế.
Sự phát triển của sinh học phân tử, công nghệ gene, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo đang mở thêm nhiều khả năng cho công tác giám sát và dự báo dịch bệnh.
Tuy nhiên, theo lãnh đạo Bộ Y tế, giá trị của nghiên cứu khoa học không chỉ nằm ở số lượng công trình hay kết quả công bố. Quan trọng hơn, các kết quả nghiên cứu phải được đưa vào thực tiễn, góp phần giải quyết những vấn đề cụ thể của sức khỏe cộng đồng.
Từ góc nhìn này, phòng thí nghiệm và cộng đồng không phải hai lĩnh vực tách biệt. Một mẫu máu, mẫu nước, mẫu phân hay mẫu côn trùng thu được ngoài thực địa đều có thể cung cấp những dữ liệu quan trọng về tình hình dịch tễ.















