Trong bối cảnh y tế tư nhân Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới, bài toán vốn đang trở thành một trong những điểm nghẽn đáng chú ý nhất. Khi nhu cầu đầu tư vào bệnh viện, phòng khám và đặc biệt là thiết bị y tế công nghệ cao ngày càng lớn, cho thuê tài chính nổi lên như một kênh tài trợ có khả năng kết nối vốn với tài sản và dòng tiền thực tế của doanh nghiệp.
Tại Diễn đàn Phát triển Y tế tư nhân năm 2026, vấn đề huy động nguồn lực tài chính được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ và năng lực cạnh tranh của khu vực y tế tư nhân. Theo tham luận của ông Phạm Xuân Hòe, Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam, đây là thời điểm cần nhìn nhận cho thuê tài chính như một cấu phần thực chất của thị trường vốn cho y tế.

Y tế tư nhân đang đứng trước một thị trường rộng mở khi Việt Nam có trên 100 triệu dân, tầng lớp trung lưu gia tăng và tốc độ già hóa dân số nhanh. Cùng với đó, nhu cầu khám chữa bệnh chất lượng cao, y tế chuyên sâu và chăm sóc sức khỏe cá nhân hóa ngày càng tăng. Các nghiên cứu được trình bày tại diễn đàn cho thấy khu vực y tế tư nhân đã phát triển đáng kể nhưng vẫn còn nhiều khoảng trống về quy mô, phân bổ và chất lượng dịch vụ.

Theo số liệu được trình bày, đến tháng 6/2026, Việt Nam có khoảng 450 bệnh viện tư nhân và hơn 50.000 phòng khám. Tuy nhiên, khoảng 70% bệnh viện tư nhân có dữ liệu có quy mô dưới 100 giường, trong khi số bệnh viện trên 300 giường chỉ khoảng 3%. Điều này cho thấy dư địa mở rộng quy mô và đầu tư chiều sâu của khu vực tư nhân còn rất lớn.
Trong cấu trúc vốn của một bệnh viện, thiết bị y tế thường chiếm khoảng 40–60% tổng vốn đầu tư. Với một bệnh viện đa khoa 200–300 giường, tổng vốn có thể lên tới hàng trăm tỷ đồng, thậm chí hơn 1.000 tỷ đồng tùy cấu hình. Trong khi đó, giá trị của những thiết bị như MRI 3 Tesla, CT Scanner, PET/CT hay robot phẫu thuật có thể lên tới hàng chục, thậm chí hàng trăm tỷ đồng.
Đây chính là điểm khiến phương thức huy động vốn truyền thống bộc lộ hạn chế. Tín dụng ngân hàng vẫn là nguồn vốn chủ lực nhưng thường yêu cầu tài sản bảo đảm lớn, trong khi thời hạn vay có thể chưa tương thích với vòng đời khai thác thiết bị.
Theo ông Phạm Xuân Hòe, cho thuê tài chính có lợi thế ở chỗ chuyển trọng tâm từ câu chuyện “có bao nhiêu tài sản thế chấp” sang “tài sản này có khả năng tạo ra dòng tiền như thế nào”. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 đã xác định cho thuê tài chính là một hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn; đồng thời cho phép thực hiện nghiệp vụ mua và cho thuê lại.
Với bệnh viện, phòng khám tư nhân, đây có thể là khác biệt đáng kể. Thay vì phải bỏ ra một khoản vốn lớn ngay từ đầu để mua thiết bị, doanh nghiệp có thể sử dụng thiết bị và trả tiền thuê theo kỳ hạn phù hợp với thời gian khai thác. Chính thiết bị thuê trở thành tài sản bảo đảm, qua đó giảm áp lực phải bổ sung bất động sản hoặc tài sản khác.
Một ví dụ được đưa ra là khoản đầu tư 60 tỷ đồng cho một máy MRI 3 Tesla. Với phương án vay ngân hàng, bệnh viện có thể phải chuẩn bị 20–30% vốn đối ứng, đồng thời bổ sung tài sản bảo đảm và chịu áp lực về kỳ hạn vay. Trong khi đó, phương án cho thuê tài chính có thể tài trợ tới 100% giá trị thiết bị, với thời hạn minh họa 7–10 năm.
Nếu thiết bị vận hành trung bình 35 ca/ngày với giá dịch vụ 1,5 triệu đồng/lần, doanh thu minh họa có thể đạt khoảng 19,2 tỷ đồng/năm trước khi tính chi phí vận hành. Khi đó, chính dòng tiền được tạo ra từ tài sản trở thành nguồn quan trọng để thực hiện nghĩa vụ thuê.
Đây cũng là logic của mô hình vendor leasing đang phát triển tại Nhật Bản, khi nhà sản xuất, nhà cung cấp thiết bị phối hợp với công ty cho thuê tài chính để cung cấp trọn gói từ thiết bị, bảo trì đến tài trợ vốn. Đức và Hàn Quốc cũng có những kinh nghiệm đáng tham khảo trong việc sử dụng leasing để hỗ trợ đầu tư thiết bị y tế công nghệ cao.
Dù tiềm năng lớn, thị trường cho thuê tài chính Việt Nam hiện vẫn còn khá khiêm tốn. Dư nợ cho thuê tài chính giai đoạn 2020–2024 chỉ dao động khoảng 50.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 0,1% tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế. Năm 2025, trong khi tín dụng toàn hệ thống tăng khoảng 19%, dư nợ cho thuê tài chính tăng trên 13%.
Khoảng cách này cho thấy thị trường còn dư địa rất lớn, nhất là khi nhu cầu đầu tư thiết bị y tế công nghệ cao đang gia tăng. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành dòng vốn thực tế, cần đồng thời tháo gỡ những điểm nghẽn về nguồn vốn trung và dài hạn, ưu đãi thuế, thị trường thứ cấp của tài sản cho thuê và cơ chế hỗ trợ các lĩnh vực ưu tiên.
Một số đề xuất được đưa ra gồm xây dựng chương trình quốc gia về cho thuê tài chính thiết bị y tế; hình thành quỹ bảo lãnh có danh mục ưu tiên cho lĩnh vực y tế; thí điểm mô hình vendor leasing; có chính sách thuế phù hợp; mở rộng nguồn vốn trung và dài hạn cho các công ty cho thuê tài chính; đồng thời hoàn thiện thể chế phát triển y tế tư nhân.
Đáng chú ý, một đề xuất mới là xây dựng Vietnam Medical Equipment Vendor Financing Platform – nền tảng kết nối hãng thiết bị, bệnh viện, công ty cho thuê tài chính và dòng tiền. Mô hình này hướng tới việc chuẩn hóa dữ liệu về thiết bị, nhà cung cấp và dòng tiền bệnh viện, từ đó chuyển cách tiếp cận từ “bán thiết bị” sang “bán giải pháp đầu tư y tế”.
Ở góc độ rộng hơn, phát triển y tế tư nhân không chỉ là câu chuyện mở thêm bệnh viện hay phòng khám. Định hướng đến năm 2030 và tầm nhìn 2050 được trình bày tại diễn đàn đặt mục tiêu hình thành một hệ sinh thái y tế công – tư tích hợp, trong đó khu vực tư nhân đóng vai trò năng động hơn về công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và cung ứng dịch vụ chất lượng cao.
Khi đó, vốn, công nghệ và chất lượng dịch vụ không còn là những câu chuyện tách rời. Một cơ chế tài chính phù hợp có thể giúp bệnh viện tiếp cận thiết bị hiện đại nhanh hơn; thiết bị tạo ra doanh thu; doanh thu quay trở lại trả nghĩa vụ tài chính; còn người bệnh được hưởng lợi từ năng lực khám chữa bệnh được nâng lên.
Vì vậy, cho thuê tài chính có thể chưa phải là lời giải duy nhất cho bài toán vốn của y tế tư nhân, nhưng rõ ràng đang đứng trước cơ hội trở thành một “mạch vốn” quan trọng của thị trường. Nếu được hỗ trợ bằng thể chế phù hợp và kết nối với hệ sinh thái thiết bị – tài chính – bảo hiểm – dịch vụ y tế, leasing có thể góp phần đưa nguồn vốn trung và dài hạn đến đúng nơi mà y tế tư nhân đang cần nhất: những tài sản công nghệ cao có khả năng tạo ra dòng tiền và nâng chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân.
Nguyễn Nam















